
You are not logged in.
1 Tháng Tám
Bài Giảng Của Vị Giáo Trưởng
Trong một thị trấn nhỏ bên Liên Xô. Một số người Do Thái đang chờ đón vị giáo trưởng của họ. Đă lâu lắm cộng đoàn của họ không có người lănh đạo. Vị giáo trưởng lại cư ngụ trong một thành phố khác. Ông chỉ đến thăm cộng đoàn nhỏ bé này mỗi năm một lần. Ai ai cũng náo nức được gặp con người thánh thiện nổi tiếng này. Mọi người chuẩn bị những câu hỏi mà họ sẽ lần lượt nêu lên để xin vị giáo trưởng giải đáp.
Khi ông đến nơi, sự căng thẳng càng hiện lên trên nét mặt của nhiều người. Ai cũng đang trong tư thế giơ tay để đặt câu hỏi. Nhưng khi mọi người đă an tọa trong pḥng họp, vị giáo trưởng không nói lời nào. Ông đưa mắt nh́n mọi người. Một hồi lâu, ông bỗng ngân nga một điệu nhạc. Mọi người đều bắt chước làm theo. Vị giáo trưởng lại cất tiếng hát lên một bài ca quen thuộc. Mọi người cũng hát theo ông... Mọi người tưởng nghi thức mở đầu ấy sẽ chấm dứt và vị giáo trưởng sẽ nói lên những lời vàng ngọc.
Nhưng không, trái với sự chờ đợi của mọi người, hết bài ca này đến bài ca khác, ông không ngừng bắt lên những bài ca mới. Khi các bài ca vừa dứt, ông bước xuống khỏi bục giảng và bắt đầu nhảy múa. Ông vừa nhảy vừa vỗ tay, không mấy chốc cả cử tọa cũng bước ra khỏi ghế và nhảy theo ông. Tiếng vỗ tay, tiếng hát, tiếng nhịp chân lôi kéo mọi người vào điệu múa khiến họ không c̣n nhớ đến những câu hỏi mà họ đă chuẩn bị từ mấy hôm trước. Cả cộng đoàn ḥa nhịp với nhau trong đôi chân, cùng nắm tay nhau, cùng khăng khít với nhau trong phấn khởi, vui tươi, cảm thông, hiệp nhất...
Khi các điệu vũ đă chấm dứt, mọi người trở về chỗ ngồi của ḿnh. Lúc bấy giờ, vị giáo trưởng mới lên tiếng nói và ông chỉ nói có vỏn vẹn một câu ngắn ngủi như sau: "Tôi tin chắc rằng tôi đă trả lời cho mọi thắc mắc của anh chị em".
Cô đơn là nguyên nhân gây ra mọi thứ xáo trộn, bệnh tật trong chúng ta. Cô đơn đưa chúng ta đến sầu muộn. Sầu muộn đưa chúng ta đến nổi loạn. Nổi loạn đưa chúng ta đến tội ác...
Có những người bị người khác đày đọa cô đơn, nhưng cũng không thiếu những người tự giam hăm vào cô đơn. Nhưng đày đọa kẻ khác vào cô đơn cũng có nghĩa là cắt bớt đi một sợi dây liên kết, là tiến dần đến chỗ cô đơn.
Để ra khỏi cô đơn, liều thuốc duy nhất chính là làm cho người khác bớt cô đơn. Một tiếng hát vui tươi cất lên để mời gọi mọi người cùng hát với ḿnh, một tiếng vỗ tay tung ra để mời gọi mọi người cùng phấn khởi với ḿnh, một nhịp bước đưa ra để mời gọi mọi người cùng nhảy múa với ḿnh: khi ḥa nhịp với nhau trong một niềm vui chung, người ta sẽ xóa đi được bao nhiêu vấn đề vướng mắc trong tâm tư.
Có ra khỏi chính ḿnh để chia vui sẻ buồn với người, có ra khỏi chính ḿnh để chỉ nghĩ đến những ưu tư phiền muộn của người, có ra khỏi chính ḿnh để lo lắng cho người, để giúp đỡ người, chúng ta mới làm vơi đi được nỗi cô đơn của ḿnh và cũng giúp người bớt cô đơn.
Cho th́ có phúc hơn nhận lănh: càng trao ban, càng ra khỏi chính ḿnh, chúng ta mới cảm thấy vơi nhẹ đi những ưu tư, lo lắng của ḿnh...
Trích sách Lẽ Sống
Offline
2 Tháng Tám
Nghệ Thuật Làm Lửa
Thời xa xưa, t́m được cách làm ra lửa là cả một phát minh vĩ đại...
Có một nhà phát minh nọ, sau khi đă t́m được nghệ thuật làm ra lửa đă đi từ bộ lạc này sang bộ lạc khác để quảng bá phương pháp của ḿnh. Có nhiều bộ lạc tiếp thu phương pháp của ông mà không hề bày tỏ một dấu hiệu nào của ḷng biết ơn. Nhưng con người quảng đại này không màng đến chuyện người ta biết ơn hay phản bội. Niềm hạnh phúc của ông là thấy được mỗi ngày càng có được nhiều người hưởng được sự phát minh của ông.
Cũng giống như những bộ lạc trước, bộ lạc cuối cùng mà ông mang đến nghệ thuật làm ra lửa cũng hồ hởi đón tiếp ông. Nhưng không mấy chốc, các tư tế trong bộ lạc tỏ ḷng ghen tức, họ âm mưu sát hại ông để xóa bỏ mọi ảnh hưởng của ông. Sau khi mưu sát ông, để đánh tan mọi nghi ngờ, các tư tế cho vẽ một bức chân dung của ông và đặt trên bàn thờ. Trong mọi nghi thức tế tự, tên của ông được thành kính nhắc đến như một đại ân nhân của bộ lạc. Các dụng cụ ông làm ra lửa cũng được các tư tế cho đặt vào trong một chiếc hộp quư. Họ cũng rêu rao rằng bất cứ ai lấy ḷng tin mà chạm đến các báu vật ấy sẽ được chữa mọi bệnh tật.
Vị Thượng tế của bộ lạc cũng nhận trách nhiệm biên soạn một tiểu sử của vị phát minh ra lửa. Quyển tiểu sử ấy cũng trở thành một thứ sách Thánh trong đó gương sáng, đời sống gương mẫu của vị đại ân nhân được ca tụng và đề ra như lư tưởng cho mọi người noi theo. Các tư tế cũng tự nhận cho họ quyền được giải thích về cuộc đời và các lời răn dạy của vị phát minh.
Để đảm bảo tính cách tinh ṛng của những lời răn dạy của vị phát minh, các tư tế ra vạ tuyệt thông hoặc tử h́nh cho tất cả những ai không chấp nhận những lời giải thích của họ. Dân chúng sợ hăi đến độ dần dà họ chỉ c̣n biết có những lựi giải thích của các vị tư tế và quên hẳn cả chính nghệ thuật làm ra lửa.
Câu chuyện ngụ ngôn trên đây đă được một vị linh đạo nổi tiếng của Ấn Độ là linh mục Anthony De Mello ghi lại trong các câu chuyện có nội dung giáo lư của cha. Qua câu chuyện này, cha De Mello như muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cái khuynh hướng chung của những người có tôn giáo là dễ dàng quên đi chính cái cốt lơi của tôn giáo. Con người dẽ bám vào những nghi thức bên ngoài của tôn giáo mà quên đi sứ điệp thiết yếu của nó. Chiến tranh tôn giáo, sự bất khoan dung của các tín đồ đều bắt nguồn từ khuynh hướng trên.
Người tín hữu Kitô chúng ta có lẽ cũng không thoát khỏi khuynh hướng ấy. Chúng ta dễ bị cám dỗ nh́n vào đạo của chúng ta như một hệ thống của những cơ cấu, của những nghi thức, của những điều phải tin, phải giữ, nhưng lại quên đi cái cốt lơi của đạo chúng ta chính là t́nh yêu. Chúng ta sẵn sàng nhân danh Chúa, nhân danh đạo lư để loại trừ, để bách hại người anh em bằng cách này hay cách khác. Rốt cục cũng giống như bộ lạc cuối cùng trong câu chuyện ngụ ngôn trên đây, lửa của yêu thương mà Chúa Giêsu đă mang đến, chúng ta đă dập tắt đi để thay vào đó bằng những nghi thức thừa thăi trống rỗng. Chúng ta dễ dàng thay thế đạo của yêu thương, đạo của Tin Mừng bằng đạo của h́nh thức, đạo của giả h́nh...
Quên đi cốt lơi của Tin Mừng là Yêu Thương, chúng ta cũng loại bỏ chính Chúa Kitô ra khỏi cuộc sống của chúng ta. Không chừng chúng ta cũng đang đóng đinh Ngài một lần thứ hai. Lời Kinh của chúng ta sẽ chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, các nghi thức của chúng ta sẽ chỉ là những tṛ hề, nếu cuộc sống của chúng ta chưa được thấm nhuần, tưới gội bằng Lửa của Yêu Thương mà Chúa Giêsu đă mang đến cho chúng ta
Trích sách Lẽ Sống
Offline
3 Tháng Tám
Ḍng Nước Từ Sa Mạc
Có một người Ả Rập nghèo nọ phải băng qua giữa sa mạc trong cơn đói khát và mệt lả. T́nh cờ, người đó bắt gặp một ḍng suối. Với tất cả tấm ḷng biết ơn, ông ta uống từng ngụm nước và cảm thấy ngọt ngào khôn tả. Ông múc nước đổ vào bầu da cho đầy và tiếp tục cuộc hành tŕnh.
Sau nhiều ngày vất vả, ông đă đến thủ đô Baghdad. T́m đủ mọi cách để tiếp kiến với quan đầu tỉnh, ông dâng kính cho quan tặng vật là chính bầu nước. Quan đầu tỉnh đón nhận món quà một cách vui vẻ. Cho nước vào trong ly, ông uống cạn và cám ơn người Ả Rập, đồng thời tưởng thưởng ông một cách quảng đại.
Những người hầu cận cứ nghĩ thầm rằng đây là một thứ nước kỳ diệu nên ai cũng mong được nếm thử. Nhưng quan đầu tỉnh nhất mực từ chối... Chờ cho người Ả Rập đi khuất, quan mới giải thích về cử chỉ của ḿnh. Nước để lâu trong bầu da đă trở nên rất bẩn vàhôi thối. Quan nghĩ rằng, nếu tất cả mọi người đều uống nước đó và đều tỏ ra khó chịu trước mặt người Ả Rập, ông ta hẳn sẽ bị tổn thương...
Quà tặng cao quư nhất mà người Ả Rập đă biếu cho quan đầu tỉnh chính là những giọt nước đa cứu sống ḿnh. Quan đầu tỉnh đă tặng cho ông món quà quư giá nhất bằng cách uống lấy nước ông dâng biếu... Cuộc đời sẽ đẹp biết bao nếu con người chỉ biết đối xử với nhau bằng những cử chỉ tế nhị và thân ái. Một cử chỉ nhỏ mọn đến đâu, nhưng nếu được làm với tất cả yêu mến sẽ không bao giờ qua đi.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
4 Tháng Tám
Sức mạnh Của Thiên Chúa
Được biết đến và được yêu mến như cha sở họ Ars, cha Gioan Maria Vianney, vị thánh được giáo hội mừng kính hôm nay, là một trong những người làm chứng về lời thánh Phaolô đă nói: "Thiên Chúa đă chọn những người không ra ǵ, để làm rối loạn những người mạnh mẽ".
Năm 1815, thầy Gioan được truyền chức linh mục.
Sau ba năm tập sự dưới sự hướng dẫn của cha Balley, cha Gioan được chỉ định đến xứ Ars. Trên đường đi nhận họ đạo, khi đi đến khúc đường chật hẹp, cỏ mọc ngụp đầu người, giữa lúc không c̣n biết hướng đi, cha Gioan đă dừng lại hỏi cậu bé mười tuổi tên Anton đang chăn cừu gần đấy. Cậu bé lịch sự chỉ lối cho cha.
Ngày nay tại nơi đây, dân làng Ars đă dựng một tượng đài để kỷ niệm cuộc gặp gỡ này, gồm có tượng đồng diễn tả thánh Gioan Vianney đang đứng tṛ chuyện với cậu Anton, một tay ngài đặt lên vai cậu, một tay chỉ lên trời. Dưới chân tượng, người ta ghi câu cám ơn của thánh nhân: "Cám ơn con đă chỉ cho cha đường đi tới Ars. Rồi đây, cha sẽ chỉ cho con đường về Thiên Đàng".
Thực ra, cha Gioan đă không những giữ lời ḿnh đă hứa chỉ đường cho một ḿnh em Anton về quê Trời mà thôi, nhưng cho cả giáo xứ Ars và trăm ngàn người khác từ khắp nơi kéo đến hành hương, để được xưng tội và được hướng dẫn trở về đường ngay nẻo chính.
Ư thức bổn phận của linh mục là dấn thân phục vụ cho đàn chiên, cha Gioan đă hoạch định cho ḿnh một chương tŕnh sống, một chương tŕnh chúng ta có thể gói gém vào ba hoạt động chính sau đây: Nếp sống khắc khổ hy sinh, tôn sùng Phép Thánh Thể và thi hành việc mục vụ qua lời giảng dạy cũng như trong ṭa Giải Tội.
Để thi hành việc mục vụ, cha Gioan đă cho tha nhân thời giờ của ḿnh: Mỗi ngày cha chỉ dùng 2 hay 3 giờ để nghỉ ngơi lấy sức. Giờ c̣n lại cha dùng để cầu nguyện và giải tội.
Quỳ lâu trong nhà thờ vào lúc canh khuya, cha Gioan duyệt lại trước Thánh Thể hoàn cảnh của tất cả 230 tín hữu trong họ đạo Ars, từng người một, từng nhu cầu của mỗi người.
Ngoài ra, mỗi ngày vào mùa đông lạnh lẽo, cha Gioan giải tội trung b́nh khoảng 11 hay 12 tiếng đồng hồ. Vào mùa hè, có khi ngài sử dụng đến 16 giờ để giao ḥa các hối nhân lại với Thiên Chúa.
Cha Gioan thường gọi những giờ giải tội lâu dài này là "Giờ của Thiên Chúa". Trong suốt 41 năm mục vụ, cha Gioan có dịp nghe những tội lỗi của con người, những vấn đề, những khó khăn của trần gian. Để xoa dịu, mỗi sáng bước lên bàn thờ dâng Thánh Lễ, cha mang theo hết mọi ư nguyện, mọi hoài băo cũng như mọi yếu đuối, mọi lỗi lầm của toàn dân, để xin Thiên Chúa thanh luyện, cải hóa. Qua đó, ṭa giải tội trở nên như một giếng nước trong lành, nơi giáo dân đến múc lấy T́nh Thương Yêu của Thiên Chúa.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
5 Tháng Tám
Tha Nhân Không Là Hỏa Ngục
Có một chàng thanh niên khao khát trở thành một thánh nhân. Chàng xin vào một ḍng tu. Không mấy chốc, chàng khám phá ra tính t́nh nóng nảy của ḿnh. Nhưng thay v́ t́m căn nguyên nơi ḿnh, chàng quy trách cho những người xung quanh. Tha nhân đă trở thành hỏa ngục đối với chàng.
Sau cùng, không c̣n chịu nổi đời sống tập thể nữa, chàng nghĩ có thể t́m thấy sự yên tĩnh trong sa mạc. Thế là chàng đă lên đường t́m đến một nơi hoang vu vắng vẻ để cắm lều sống đời ẩn sĩ. Mà thật thế, chàng đă t́m lại được sự thanh thản trong tâm hồn...
Tuy nhiên, sự b́nh an trong cô quạnh ấy không kéo dài được. Ma quỷ đă kéo đến và chúng đă gây xáo trộn trong căn lều xinh xắn của chàng. Không c̣n giữ được b́nh tĩnh, chàng đă nổi tam bành và đạp đổ tất cả...
Sau cơn giận dữ, trở lại trạng thái b́nh thường, chàng mới hồi tâm suy nghĩ: Tôi đă bỏ lại tu viện các anh em của tôi, nhưng tôi lại mang chính tôi vào sa mạc. Không phải anh em tôi là căn nguyên của đau khổ của tôi, nhưng tính t́nh của tôi mới là đầu mối của mọi đổ vỡ...
Chúng ta được sinh ra trong một gia đ́nh, chúng ta được mời gọi để sống trong xă hội. Tha nhân không phải là một trở ngại, nhưng chính là một trợ giúp để chúng ta phát triển nhân cách và thành toàn.
Tất cả mọi căn nguyên chính của thất bại và thành công đều nằm trong ta. Cuộc chiến cam go nhất và liên lỉ nhất của chúng ta, chính là chiến đấu chống lại bản thân chúng ta. Xă hội có thể thay đổi, cuộc sống có thể tốt đẹp hơn nếu chúng ta biết cải thiện con người của chúng ta trước.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
6 Tháng Tám
Bảng kết tội nhau
Tạp chí Reader's Digest, số xuất bản tháng 11 năm 1985 có đăng một chuyện ngắn, nhưng đầy ư nghĩa về gia đ́nh: Đôi vợ chồng đă nhiều lần căi nhau và lần này, đang lúc hai người căi nhau hăng say, th́ người chồng đề nghị với vợ: "Này, chúng ta đừng căi nhau nữa. Mỗi người hăy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau". Người vợ đồng ư. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nh́n người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng ḿnh bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như cố ư tranh với chồng, để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nh́n vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những ḍng chữ kể ra tật xấu của người chồng và người vợ xem ra hả dạ, v́ đă viết nhiều hơn.
Đến lúc không c̣n ǵ để viết nữa, họ trao cho nhau bảng kể tội của nhau. Sau khi nh́n vào tờ giấy của chồng, nét mặt người vợ bỗng đổi v́ xúc động. Bà vội vă đ̣i lại tờ giấy đă đưa cho chồng và có thái độ làm ḥa ngay. Trong tờ giấy của người chồng bà chỉ đọc được có một câu duy nhất: Anh yêu em!
Nếu t́nh yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, th́ con người không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu t́nh yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với con người, th́ sẽ không c̣n cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
7 Tháng Tám
Con Bọ Cạp Giữa Ḍng Sông
Một tín đồ Ấn giáo nọ xuống ḍng sông Gange để thanh tẩy và cầu nguyện...
Ông đang trầm ḿnh giữa ḍng sông th́ bỗng đâu rác rưởi tấp lại dày đặc xung quanh ông. Trong đống rác, một con bọ cạp đang chao đảo chới với giữa ḍng nước. Sẵn ḷng khoan dung đối với thú vật, người tín đồ Ấn giáo mới ch́a cánh tay ra để cứu vớt con vật. Nhưng cánh tay ông vừa đưa ra đă bị con vật dùng chiếc ṿi độc của nó đốt lấy. Người đàn ông không mất kiên nhẫn, con vật càng hung hăn, ông càng chịu đựng để nó dùng nọc độc chích liên hồi, miễn là cứu sống nó thoát khỏi ḍng nước đang cuốn trôi.
Có người theo dơi cảnh tượng, mới trách người tín đồ như sau: "Ông mất giờ vô ích. Nó là con bọ cạp, bản chất của nó chỉ là dùng nọc độc để chích mà thôi".
Người tín đồ Ấn giáo mới điềm nhiên trả lời: "Bản chất của con bọ cạp là dùng nọc độc để chích, nhưng bản chất của con người là cứu vớt".
Chúng ta dễ có khuynh hướng phân biệt xă hội thành hai loại người: xấu và tốt, bạn và thù... Kẻ xấu là người đáng xa lánh, người thù th́ phải oán căm sâu sắc... Chúa Giêsu đă đánh đổ mọi thứ óc "biệt phái". Những kẻ bị xă hội loại ra bên lề đă được Ngài biến thành bạn hữu, những kẻ đồng bàn. Ngài đă không nh́n người bằng những nhăn hiệu có sẵn, mà chỉ bằng h́nh ảnh cao quư của Thiên Chúa. Trong cái nh́n ấy, hàng rào giữa bạn và thù, giữa tốt và xấu sẽ được tháo gỡ giữa mọi người. Trong cái nh́n ấy, tất cả mọi người đều có chung một danh xưng; đó là anh em của nhau...
Trích sách Lẽ Sống
Offline
8 Tháng Tám
Vị Thánh Của Kinh Mân Côi
Đaminh, vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay, mở mắt chào đời năm 1170 bên Tây Ban Nha trong một gia đ́nh quư tộc, nhưng ngay từ nhỏ, Đaminh đă tập quen sống hăm ḿnh. Ngoài ra, Đaminh có tính khẳng khái, thích làm việc có hệ thống và chú ư đến việc trau dồi kiến thức.
Khi làm linh mục, rồi kinh sĩ, Đaminh nổi bật về ḷng ngay thẳng, hăng hái và tinh thần hy sinh. Ngài cảm thấy như được Chúa gọi đi để loan báo Tin Mừng cho các bộ lạc bên nước Nga, nhưng Đức Innocentê thứ 3 lại cử ngài đến hoạt động tại Toulouse bên Pháp, nơi những làn sóng lạc giáo đang làm lung niềm tin của nhiều người.
Đaminh xác tín rằng: Lời giảng dạy phải đi đôi với cuộc sống. V́ thế, ngài đă lập một hội ḍng, quy tụ các tu sĩ sống khó nghèo theo tinh thần Phúc Âm để có thể rao giảng, không chỉ bằng lời nói mà bằng cả cuộc sống của ḿnh. Chính Đaminh đă là người đầu tiên làm gương về nếp sống ấy bằng cách đi chân không, ngủ dưới đất, ăn chay và sống bằng của bố thí.
Vào năm 1216, Đức Hônôriô thứ 3 đă phên chuẩn ḍng do cha Đaminh sámg lập mang tên "Ḍng anh em giảng thuyết" thưo quy luật của thánh Augustinô, tức là ḍng Đaminh ngày nay. Thiên Chúa chỉ dành cho cha Đaminh 5 năm vắn vỏi để chu toàn sứ mệnh của người gieo giống. Suốt thời gian này ngài đă rảo qua các nước Pháp, Italia và Tây Ban Nha để rao giảng và đă đưa nhiều người ly giáo trở về với Giáo Hội.
Trong suốt cuộc sống, Đaminh đă nêu cao gương hy sinh và cầu nguyện. Ngoài ra, ngài c̣n truyền bá ḷng sùng kính Đức Maria và kinh Mân Côi, v́ thế, ngài đă thành lập một ḍng nữ để giúp chị em sống theo tinh thần này.
Cha Đaminh qua đời tại Bologna bên italia ngày 06/8/1221 và chỉ 13 năm sau, vào năm 1234, Đức Gregoriô thứ 9 tôn phong ngài lên bậc hiển thánh.
Có một câu chuyện thuật lại giấc mơ của thánh Đaminh: Ngài thấy thế gian sắp bị án công thẳng của Thiên Chúa luận phạt, nhưng được cứu thoát nhờ lời cầu bàu của Đức Maria. Đức Mẹ chỉ cho Chúa Giêsu hai h́nh ảnh: một h́nh ảnh là chính Đaminh và h́nh ảnh kia là một người ăn mày quần áo rách tả tơi.
Ngày hôm sau, trong lúc cầu nguyện trong nhà thờ, Đaminh thấy người ăn mày trong mộng xuất hiện, tiến đến gần, ôm chầm Đaminh và nói: "Anh là người đồng hành với tôi. Nếu chúng ta cùng sánh vai tiến bước, th́ không quyền lực nào có thể thắng chúng ta". Nh́n kỹ, Đaminh nhận ra người ăn mày đó chính là Phanxicô thành Assisi.
Cuộc gặp gỡ này của hai vị sáng lập ḍng vẫn được các tu sĩ Đaminh và Phanxicô mừng mỗi năm. Vào ngày lễ kính hai thánh nhân, họ cùng nhau dâng Thánh Lễ và sau đó ngồi vào bàn để chia sẻ với nhau những tấm bánh và những lư tưởng đă làm cho Giáo Hội trở nên phong phú trong việc sống theo tinh thần Phúc Âm trải qua 7 thế kỷ nay.
Lư tưởng mà ḍng Đaminh cũng như của các ḍng khác không phải chỉ để chúng ta kính phục, nhưng cũng là để chúng ta noi gương. Các tu sĩ là những người tự nguyện sống trọn những lời khuyên của Phúc Âm qua ba lời khấn: khó nghèo, thanh tinh, vâng lời. Đó cũng là ba nhân đức mà mỗi người Kitô cũng phải thực hành tùy sức, tùy hoàn cảnh và địa vị của ḿnh.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
9 Tháng Tám
Xin Hăy Dùng Con Như Khí Cụ B́nh An!
Ngày 09/8 hàng năm, hàng ngàn người Nhật Bản và nhiều du khách tập trung về Đài Ḥa B́nh tại Nagasaki để tưởng niệm quả bom nguyên tử đầu tiên được ném xuống Nhật Bản.
Đúng 11 giờ 03 phút, giờ định mệnh của thành phố Nagasaki, từng đám đông dừng lại trong thinh lặng, trong khi đó từ các tháp chuông trên khắp nước, từng hồi chuông ngân vang để tưởng niệm giây phút đau thương của Nagasaki.
Ngày 09/8/1945, quả bom nguyên tử đầy tiên đă giết hại khoảng 70 ngàn người và tiêu hủy gần như trọn vẹn thành phố Nagasaki. Ba ngày sau đó, quả bom thứ hai cũng được trút xuống trên Hiroshima nâng tổng số những người thiệt mạng lên đến gần 140,000 người. Và gần đây, hơn hai người c̣n sống sót từ dạo đó cũng vừa qua đời v́ ảnh hưởng của phóng xạ.
Lên tiếng trong một tuần lễ tưởng niệm, ông Motoshima, thị trưởng Nagasaki đă phát biểu như sau: "Qua kinh nghiệm đau thương này, những người công dân của thành phố Nagasaki đều nhận thấy rằng: bom nguyên tử có thể hủy diệt toàn thể nhân loại. Do đó, chúng tôi đă không ngừng kêu gọi hủy bỏ các vũ khí hạt nhân". Bài diễn văn trên đây của ông thị trưởng Nagasaki đă được sao gửi đến các vị nguyên thủ quốc gia trên thế giới.
Cũng trong bài diễn văn này, ông Motoshima đă tha thiết kêu gọi Liên Xô và Hoa Kỳ hăy ngồi vào bàn hội nghị với nhau và hăy quyết tâm cam kết thực hiện sự chung sống ḥa b́nh giữa Đông và Tây cũng như làm mọi cố gắng để giải trừ vũ khí hạt nhân...
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Có một lần trải qua đau thương như người Nhật Bản, cách riêng những người Nagasaki và Hiroshima, con người mới thấy được thế nào là sự tàn phá của bom nguyên tử và sự khao khát ḥa b́nh.
Lời kêu gọi trên đây của ông thị trưởng thành phố Nagasaki có lẽ không chỉ được ngỏ với các vị nguyên thủ quốc gia, hoặc hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô. Lời kêu gọi đó cũng phải được truyền đến tận tai của từng người. Bởi v́ ḥa b́nh không phải chỉ là vấn đề của một số người, hoặc của một số quốc gia. Ḥa b́nh là vấn đề của từng người. Nó là cố gắng xây dựng của từng ngày và của từng người.
Nhưng ḥa b́nh không chỉ là thành quả của những cố gắng. Nó c̣n là một ân ban mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể trao tặng cho con người... Ngày 27/10/1986, cuộc gặp gỡ cầu nguyện cho ḥa b́nh của các vị đại diện các tôn giáo trên thế giới đă nói lên được chiều kích đích thực của ḥa b́nh: ḥa b́nh phải xuất phát từ tâm hồn con người.
Con người cần phải cầu nguyện cho ḥa b́nh. Chính trong cuộc gặp gỡ thâm sâu trong tâm hồn giữa con người và Thiên Chúa mà ḥa b́nh đích thực mới phát sinh. Cho dù có hủy bỏ mọi vũ khí hạt nhân, cho dù có kư mọi ḥa ước, nếu con người chưa dẹp bỏ mọi thứ vũ khí khác trong tâm hồn, mầm mống của chiến tranh vẫn c̣n đó...
Trích sách Lẽ Sống
Offline
10 Tháng Tám
Tài Sản Của Giáo Hội
Hôm nay, Giáo Hộ kính nhớ một vị thánh được tôn kính rất nhiều trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo: đó là thánh Lôrenxô. Thật ra, người ta biết rất ít về vị thánh này...
Theo tương truyền, th́ Lôrenxô là một vị phó tế người Roma phục vụ Giáo Hội dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixtô II, và có lẽ cũng đă chịu tử đạo trong thời kỳ bách hại của Hoàng đế Velerianô vào thế kỷ thứ 3.
Chuyện kể lại rằng, cũng như các phó tế trong giai đoạn tiên khởi của Giáo Hội, Lôrenxô được giao phó trách nhiệm quản lư tài sản của Giáo Hội và trợ giúp người nghèo. Ngày nay chúng ta gọi là hoạt động xă hội của Giáo Hội.
Sau khi Đức Sixtô II bị bắt giữ, phó tế Lôrenxô cũng đă nghĩ ngay đến số phận chờ đợi ḿnh mà Giáo Hội phải trải qua. Ngài tập trung lại tất cả những người nghèo, các bà góa và các em cô nhi tại Roma. Tất cả tài sản của Giáo Hội, ngài phân phát cho họ. Để cung cấp đủ cho số người túng thiếu quá đông, ngài đă cho bán cả các chén thánh dùng trong phụng tự...
Hoạt động bác ái quá rầm rộ này không mấy chốc đến tai viên thị trưởng Roma. Ông cho rằng, Giáo Hội phải có rất nhiều kho tàng. Thế là Lôrenxô đă bị điệu đến để cung khai về tất cả tài sản của Giáo Hội. Vị phó tế khôn ngoan này đă xin hoăn lại một thời gian để xếp đặt mọi sự và lập danh sách của cải của Giáo Hội. Trong suốt ba ngày, ngài cho triệu tập những người tàn tật, đui mù, góa bụa, cô nhi... và cho họ xếp hàng đứng trước dinh viên thị trưởng. Rồi ngài dơng dạc tuyên bố: "Đây là tất cả tài sản của Giáo Hội".
Viên thị trưởng đă cho lời tuyên bố này là một thách thức ngạo mạn. Ông truyền lệnh cho thiêu sống Lôrenxô trên một chiếc giường sắt được nung đỏ. Các lư h́nh thay phiên nhau để quay trở thân xác của thánh nhân như một con thú...
Câu chuyện trên đây có thể chỉ là sản phẩm của một ḷng tôn kính cao độ mà các tín hữu thời sơ khai dành cho một vị thánh. Nhưng, dù không biết nhiều về vị thánh này, chúng ta vẫn có thể xác quyết một điều: ngài đă chết v́ Đức Kitô. Sự thánh thiện ở thời đại nào cũng được định nghĩa như một sự đáp trả hoàn toàn đối với lời mời gọi bước theo Đức Kitô.
Sống và chết cho Đức Kitô: đó là ơn gọi từng ngày của người Kitô. Có nhiều h́nh thức bắt đạo khác nhau: từ những sắc lệnh cấm đạo công khai cho đến những hạn chế tự do tín ngưỡng một cách tinh vi.
Có nhiều h́nh thức tử đạo khác nhau: từ cảnh đầu rơi, máu đổ cho đến những cái chết dần ṃn trong nơi lao tù, cũng như những khước từ hy sinh từng ngày mà mỗi người Kitô đang phải trải qua.
Sống trọn vẹn ơn gọi của người Kitô cũng là một h́nh thức tử đạo từng ngày. Quyết trí trung thành lắng nghe tiếng nói của lương tâm để không chạy theo những cám dỗ của quyền lực, của tiền bạc, của gian dối, của lường gạt: đó cũng là một cuộc tử đạo dai dẳng.
Quyết trí trung thành với Giáo Hội dù phải chịu những phân biệt đối xử, dù phải bị tước đoạt quyền lợi: đó cũng là một cuộc tử đạo dai dẳng.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
11 Tháng Tám
Cô Bạn Của Thánh Phanxicô Assisi
Một trong những cuốn phim có giá trị diễn tả về cuộc đời của thánh Phanxicô thành Assisi mới được thực hiện cách đây vài năm đa thi vị hóa vai tṛ của Clara, vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay. Đạo diễn của cuốn phim đă giới thiệu Clara qua h́nh ảnh một nữ tài tử trẻ đẹp với mái tóc vàng óng ả, thích tung tăng chạy nhảy giữa cánh đồng hoa hướng dương chạy dài mút mắt.
Trong thực tế, quăng đời thanh xuân của Clara đă cống hiến nhiều chi tiết có thể được sử dụng làm chất liệu để quay phim. Vào tuổi trăng tṛn 15, Clara đă từ chối kết hôn v́ tâm hồn của nàng bị xúc động mănh liệt qua lời rao giảng có chiều sâu của Phanxicô. Từ đó cho đến lúc Clara trút hơi thở cuối cùng, Phanxicô là một người bạn tinh thần, một cha linh hướng của nàng.
Lúc lên 18 tuổi, Clara thoát ly gia đ́nh và trong một buổi lễ đơn sơ cử hành vào đêm, nàng đă cởi bỏ những xiêm y đắt tiền để mặc lấy một chiếc áo ḍng bằng vải thô, đă thay chiếc dây nịt quư giá bằng một sợi dây thắt lưng đơn sơ và đă để cho Phanxicô cắt mái tóc óng ả của ḿnh tượng trưng cho tinh thần từ bỏ.
Khi một số thiếu nữ khác cùng một chí hướng, kể cả Agnes, em gái của Clara, theo chân nàng vào tu viện, họ đă bắt đầu một cuộc sống nghèo nàn, khổ hạnh và ẩn dật, cắt đứt mọi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Họ đi chân không, ngủ trên nền nhà, không ăn thịt và giữ thinh lặng hầu như hoàn toàn. Đó là những dấu hiệu bên ngoài biểu lộ ư hướng bên trong của họ muốn sống khó nghèo theo tinh thần Phúc Âm như Đức Giêsu đă dạy.
Đế sống cuộc đời từ bỏ, các nữ tu ḍng thánh Clara khước từ quyền sở hữu của bất cứ của cải nào, kể cả với tính cách là của chung.
Nhu cầu lương thực hằng ngày được giải quyết bằng của bố thí. Khi Đức Thánh Cha khuyên họ giảm bớt cách thực hành sống nghèo cách tuyệt đối như vậy, Clara đă khẳng khái trả lời: "Thưa Đức Thánh Cha, chúng con cần cha tha tội, chứ chúng con không mong ước cha tha chúng con khỏi những bổn phận phải giữ để trung tín dơi theo chân Chúa Giêsu".
Trong bốn bức tường tu viện tại San Đamianô gần Assisi, Clara ân cần chăm sóc các bệnh nhân, khiêm nhượng hầu bàn và rửa chân cho các nữ tu sau khi họ đi cầu thực trở về và dành nhiều thời giờ để tâm hồn ch́m sâu trong kinh nguyện. Các nữ tu đồng thời thuật lại rằng: Khi Clara cầu nguyện xong, mặt chị chiếu sáng làm chói mắt mọi người.
Trong 27 năm cuối đời, Clara bị đau ốm luôn, nhưng chị đă thu hút được nhiều Giám Mục, Hồng Y, kể cả các giáo chủ đến để tham khảo ư kiến của chị.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
12 Tháng Tám
Món Quà Vô Giá
Một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao.
Cô gái nhận lấy món quà nhưng ḷng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: ḿnh đă trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra ǵ.
Không c̣n đủ b́nh tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đă kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và ḱa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
Cô gái chỉ có thể hiểu được ḷng tốt của người chủ khi cô nhận ra giá trị của món quà... Lắm khi Thiên Chúa cũng gửi đến cho chúng ta những món quà được bao bọc bằng h́nh thù của thập giá. Sự sần sù và dáng vẻ thê thảm của thập giá làm ta không thể hiểu được ḷng tốt của Thiên Chúa
Trích sách Lẽ Sống
Offline
13 Tháng Tám
Bức Tường Ô Nhục
Ngày 13/8/1961, sau nhiều cuộc thương thảo vô ích giữa Washington và Mascơva nhằm giải quyết cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông và Tây, Kruschev, chủ tịch nhà nước Liên Xô, đă ra lệnh cho xây cất một bức tường ngăn cách Đông và Tây Bá Linh. Bức tường này được dựng lên không những để đánh dấu sự đọan tuyệt giữa Đông và Tây, nhưng c̣n để ngăn chặn làn sóng những người Đông Đức ồ ạt chạy sang tỵ nạn tại Tây Bá Linh. Khối Đông Âu th́ giải thích rằng bức tường này được dựng lên là để ngăn chặn những người Tây Phương có thể đến Đông Đức để làm gián điệp. C̣n phía Tây Phương th́ lại gọi bức tường đó là bức tường ô nhục... Nhưng dù được gọi dưới danh hiệu nào, dù được xây dựng dưới mục đích nào, bức tường ngăn cách giữa Đông và Tây Bá Linh vẫn măi măi là biểu trưng của những chia cách giữa con người mà chính con người đă tạo nên...
Có những bức tường ngăn cách về kinh tế, chính trị, chủng tộc, văn hóa do con người dựng lên... Nhưng cũng có những bức tường vô h́nh mà mỗi người chúng ta có thể xây lên để tự ngăn cách với người khác.
Bức tường vô h́nh đó trước tiên là bức tường của nghi kỵ. Người ta thường xây kín khu vực của ḿnh ở bằng kín cửa cao tường là bởi v́ người ta sợ con mắt ḍm ngó của những người xung quanh. Sự nghi kỵ không những ngăn ngừa người khác đến với ḿnh, nhưng c̣n giam hăm chính ḿnh trong cô đơn...
Bức tường vô h́nh cũng là bức tường của ích kỷ. Người ích kỷ chỉ biết đến thế giới của ḿnh và khép mắt, bịt tai trước những ǵ đang xảy ra cho người khác...
Bức tường đó cũng có thể là bức tường của sự bất cảm thông. Kẻ xây tường để bao bọc ḿnh sẽ không muốn nh́n thấy và thông cảm với những người xung quanh...
Nhưng bức tường nào cũng là một nấm mồ chôn kín ḿnh trong sự cô đơn. Càng bảo vệ chính ḿnh, con người càng mất mát trong sự hao ṃn. Trái lại, càng cởi mở, càng đến với tha nhân càng triển nở trong nhân cách...
Trích sách Lẽ Sống
Offline
14 Tháng Tám
C̣n T́nh Nào Cao Quư Hơn
Vào khoảng cuối tháng 7/1941, một tù nhân đă trốn khỏi trại tập trung Auschwitz. Theo quy định của những người Đức quốc xă đang điều khiển trại, cứ một tù nhân đào thoát, th́ 10 người khác phải thế mạng.
Duyệt qua khu biệt giam, viên chỉ huy Fritsch trỏ tay vào hàng rào các tù nhân và ông đếm từ 1 đến 10. Mười người bị tử thần chiếu cố đă lần lượt tiến đến trước mặt người đồ tể. Người thứ mười đứng cạnh cha Maximiliano Kobel chợt la lên thảm thiết: "Vợ tôi, con tôi, trời ơi! Tôi sẽ không bao giờ gặp được vợ con tôi". Cha Maximiliano Kobel đă kéo người tử tội thứ mười đó lại và ngài tiến ra đứng thế chỗ cho anh...
Sau này, Francis Gajownizcek, người đàn ông đă được cha Maximiliano Kobel chết thế đă kể lại: Tinh thần trong trại thay đổi hẳn. Sự kiện này đă tạo ra một ấn tượng cao đẹp vàsâu xa... Vị linh mục ḍng Fanxico đó không những chỉ chia sẻ cho các bạn tù một mẩu bánh, vài muỗng xúp, nhưng là chính mạng sống của ḿnh để chuộc mạng cho người khác...
Liên tiếp trong hai tuần, cha Maximiliano Kobel đă phải nhịn đói, nhịn khát để chờ chết. Cơn hấp hối kéo dài quá lâu khiến những người Đức quốc xă không thể chờ đợi được. Sau cùng, viên lư h́nh đă kết thúc cuộc đời của cha bằng một mũi thuốc độc.
Thân xác của cha đă được hỏa táng và tro tàng đă được rắc trên đồng lúa như phân bón. Nguyện ước lúc thiếu thời của cha đă được thành tựu: "Tôi ước ao được hóa thành tro bụi v́ Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm nguyên tội. Ước ǵ tro đó được reo rắc khắp nơi trên thế giới để không c̣n một mảnh thi hài nào c̣n sót lại...".
Nhà tù nào cũng có thể là một hỏa ngục: hỏa ngục của hận thù, của ích kỷ, của phản bội. Có lẽ nhiều người Việt Nam đă và đang trải qua những hành hạ dă man gấp bội phần những ǵ đă diễn ra trong các trại tập trung thời Đức quốc xă...
Nhà tù có thể là hỏa ngục, nhưng cũng có thể là Thiên Đàng: Thiên Đàng của hy sinh, nhẫn nhục, yêu thương, tha thứ, quảng đại... Biết bao nhiêu hoa thơm đă chớm nở trong cảnh khốn cùng ấy. Khốn khổ càng nhiều, hy sinh càng cao.
"Không có t́nh yêu nào cao quư bằng t́nh yêu của người thí mạng sống v́ người ḿnh yêu". Chúa Giêsu đă tuyên bố như thế và Ngài đă đi đến cùng cam kết của Ngài. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá không những là sự thể hiện của sự độc ác dă man của con người, nó c̣n là dấu chỉ của mối t́nh của một người đă yêu và yêu cho đến cùng...
Cái chết hy sinh v́ người khác, Chúa Giêsu muốn luôn được tiếp tục qua cuộc sống của người Kitô. Đă có rất nhiều người đă lập lại cái chết đó qua suốt lịch sử của Giáo Hội và hiện nay, c̣n biết bao nhiêu người vẫn c̣n tái diễn cái chết đó qua những hy sinh hằng ngày của ḿnh...
Hôm nay, chúng ta kính nhớ thánh Maximiliano Kobel, ngượi đă chết thay cho một người bạn tù. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă phong thánh cho ngài ngày 10/10/1982 và đặt ngài làm quan thầy của thời đại khó khăn. Kinh nghiệm của ngài chắc chắn đang tái diễn hằng ngày trong xă hội chúng ta, trong đó người Kitô không ngừng được mời gọi để quên ḿnh và sống cho người khác.
Trích sách Lẽ Sống
Offline
15 Tháng Tám
Marilyn, Chúng Tôi Thông Cảm Với Cô
"Marilyn, chúng tôi thông cảm với cô": đó là hàng chữ mà hiện nay hàng ngàn du khách đều lâm râm đọc mỗi khi đứng mặc niệm trước mộ của nữ minh tinh Marilyn Monroe tại nghĩa trang Westwood, nằm ở phía Tây thành phố Los Angeles.
Hiện nay, từng giây, từng phút, hàng ngàn cánh hoa được du khách mang đến, phủ kín nơi an nghỉ của người nữ minh tinh xấu số này. Ngày 15/8/1962, người nữ minh tinh với mái tóc bạch kim óng ả lặng lẽ ra đi không một lời dă biệt. Cuộc quên sinh của cô, cho đến nay vẫn c̣n là một bí ẩn. Giữa lúc danh vọng đang lên, giữa lúc tiền bạc đang vào ngút ngàn, Marilyn đă chọn lấy cái chết...
Randall Reise, tác giả viết lại cuộc đời của Marilyn Monroe, đă nhận định như sau: "Marilyn không c̣n là một con người nữa. Cô đă trở thành một huyền thoại. Cô không c̣n là một nhân vật của Holywood nữa. Cô đă trở thành một yếu tố trong nền văn hóa của nước Mỹ".
Marilyn đă trở thành lư tưởng của rất nhiều ca sĩ và minh tinh điện ảnh hiện nay. Nhưng măi măi, cô đă trở thành một câu hỏi lớn cho con người của thời đại: Con người bởi đâu mà ra? Con người sinh ra để làm ǵ? Đâu là ư nghĩa của cuộc sống? Tiền bạc, danh vọng có làm cho con người được hạnh phúc không? Marilyn Monroe là hiện thân của những câu hỏi ngàn đời ấy...
"Marilyn, chúng tôi thông cảm với cô", bởi v́ cô đă không ngừng bị dằn vặt bởi những khắc khoải quá lớn về cuộc sống. Chúng tôi thông cảm với cô, bởi v́ thiếu một niềm tin vào cuộc sống, th́ không c̣n chọn lựa nào hơn là cái chết...
Hôm nay, chúng ta mừng kính Mẹ hồn xác lên trời...
Ngày 22/7/1973, thành phố Giêrusalem đột nhiên biến thành nhộn nhịp khác thường, từng đoàn người tuôn đến vườn Giêtêmani... Có tin cho biết các nhà khảo cổ đă t́m thấy tảng đá trong mồ nơi đặt xác Đức Mẹ. Đức Mẹ đă chết. Đó có lẽ phải là khẳng định đầu tiên mà các nhà khảo cổ có thể đưa ra khi t́m thấy tảng đá...
Chết là số phận tất yếu của thân phận con người. Chúa Giêsu đă chết. Có ai thoát khỏi sự chết! Nhưng có nhiều cái chết. Chúa Giêsu đă chết để phục sinh. Đức Mẹ đă chết để được cất nhắc cả hồn xác về trời. Với Chúa Giêsu và Đức Mẹ, cái chết là khởi đầu của hy vọng. Cái chết là ư nghĩa của cuộc sống, bởi v́ có chết mới được sống đời đời...
Nếu cái chết của Marilyn Monroe là một dấu hỏi được đặt ra về ư nghĩa của cuộc sống, th́ cái chết của Mẹ Maria chính là câu trả lời. Qua cái chết để được cất nhắc về trời, Mẹ Maria đă cho chúng ta thấy được ư nghĩa của cuộc sống, của cái chết và như vậy Mẹ trở thành chính niềm hy vọng của chúng ta.
Trong một cuộc sống không dư tiền dư của như Marilyn đă từng sống, chúng ta vẫn nhận ra được ư nghĩa của cuộc sống. Trong ư nghĩa đó, cái chết đă trở thành khởi điểm cho một sự biến đổi mà chính Đức Maria đă là dấu hiệu báo trước cho chúng ta... Xin cho niềm tin này củng cố chúng ta trong cuộc sống hiện tại. Xin cho chúng ta luôn biết hướng nh́n về Mẹ Maria, như là đèn pha cho chúng ta giữa những u tối và cuồng phong của cuộc sống.
Trích sách Lẽ Sống
Offline